header Home | Set as homepage | Add to favorites |
Search the Site   Advanced Search »
Archive
Mo Tu We Th Fr Sa Su
123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930




email Email to a friend | print Print version |

Điếu Văn: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

By Nguyễn Duy Hinh on February 06,2009

image
 Điếu Văn: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Chiến hữu Nguyễn Duy Hinh đã thay mặt Lực Lượng Quốc Dân Việt Nam để đến dự đám tang và chia buồn cùng gia quyến của cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Dưới đây là bài điếu văn mà chiến hữu Nguyễn Duy Hinh đã đọc trong ngày tang lễ.

Thưa Quí Vị,

Một vì sao sáng vừa lặn mất trên nền trời sao của VNCH :  Trung tướng  Ngô Quang Trưởng đã qua đời!  Với riêng tôi, Ông là một kỷ niệm khá đậm nét.

Tôi biết Ông từ xa xa, những ngày Ông là Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế và tôi đã thật gần Ông từ 1970 khi Ông tới Cần Thơ nhận chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV / Quân khu 4 và tôi là Tư lệnh phó Lãnh thổ rồi Tư lệnh phó Quân đoàn.  Chúng tôi làm việc thiệt nhiều, đi bay thăm viếng mỗi ngày, để mắt đến ít nhất là năm tới bảy tỉnh hay quận trong cái quân khu gần hai chục tỉnh ấy.

Những năm 1970 sang 1971, Quân khu 4 được coi như bình định gần hoàn toàn.  Các đơn vị lớn của địch chạy sang Cam-Bốt.  Các căn cứ lớn của đối phương và các khu du kích địa phương nhỏ đã bị triệt phá, san bằng.  Quân khu 4 có bộ mặt hiền hoà tốt đẹp với kinh tế phát triển đến độ thời ấy, người ta dã nghĩ như chiến tranh sẽ tan biến đi. Đó là trạng thái suy sụp của chiến tranh du kích CS sau Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa 1968.

Trung tướng Trưởng là một quân nhân thuần tuý, một tướng lãnh gương mẫu.  Ông tuân phục kỷ luật, làm việc cặm cụi, tận tuỵ, lãnh đạo bằng khuôn mẫu hành xử của mình.  Có một đặc sắc trong đường nét lãnh đạo của Ông:  nói thật ít và cặm cụi với công việc.

Ông thường hay vắng mặt về đêm.  Đêm như thế, khi trời vừa tối, Ông cùng Cố vấn trưởng đáp máy bay xuống một đồn Địa phương quân hay Nghĩa quân xa xôi nào đó.  Tất nhiên tới đồn không phải là để ngủ mà là dòm nom các trạm gác, các lỗ châu mai, hỏi han các chiến sĩ trong đồn, xem xét tình hình chung.  Rồi sau vài lần đi đêm như thế, tiếng đồn loan ra, trưởng đồn các thôn xóm đều kháo nhau :  có thể ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn tới trong đêm và hãy chuẩn bị mà lo trước đi thôi.

Trung tướng Trưởng ít nói, quá  hà tiện lời nói, có thể gọi là lầm lì.  Nhưng Ông để ý vào chi tiết.  Tới thăm một đơn vị thì hay nhìn kỹ, quan sát một vài xó xỉnh nào dó, thí dụ như một góc nhỏ rác rến trong khu nhà bếp một đồn binh.  Ông không nói gì nhưng ngay sau đó, khi vị Tư lệnh QĐ đi khỏi thì ta có thể chắc chắn rằng các xó rác đó sẽ được dọn dẹp và giữ gìn sạch sẽ về sau.

Trong các buổi họp, sau một thuyết trình của một đơn vị trưởng nào đó, người ta thấy Trung tướng Trưởng gật gù, mắt chớp chớp, nói một vài lời ngắn ngủi, đôi khi không hẳn là rõ rệt.  Đây là một khía cạnh lãnh đạo khác của Tướng Trưởng.  Các đơn vị trưởng, các sĩ quan tham mưu nhiều khi không hoàn toàn lãnh hội được chỉ thị của vị tư lệnh.  Buổi họp kết thúc, công việc phải làm không ngưng nghỉ và tất cả vận dụng đầu óc, tìm giải pháp tốt đẹp nhất để hoàn thành nhiệm vụ.  Sự kiện này đưa đến cộng tác của hàng chục, hàng trăm cái đầu các cấp, thách đố và gây nên sự hợp tác, đóng góp tận lực của tất cả.  Ở đây tôi thấy sự hữu hiệu sắc nét của một khía cạnh lãnh đạo Ngô Quang Trưởng. 

Rồi đến “mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, Quảng Trị mất, dân Huế di tản, chợ Đông Ba cháy !  Buổi trưa ngày 3-5-1972, trở lại bộ Tư Lệnh sau khi gặp Tổng thống Thiệu tại Saigon, Tướng Trưởng mời tôi tới văn phòng;  Ông muốn tôi cùng ra Huế.  Vài giờ đồng hồ sau đó, chúng tôi giã biệt Cần Thơ.  Rời thủ phủ của Quân khu 4 an bình, tôi thấy chóng mặt khi đáp xuống Phú Bài.  Sát  cạnh phi đạo là hai khu tập trung thương binh Dù và Thuỷ quân lục chiến nằm ngồi nghiêng ngả, máu me, băng bó bê bết chờ di tản.  Dân chúng già trẻ chen chúc nheo nhóc  trong phi cảng chờ máy bay!  Tới Huế thì thấy đó là một thành phố vắng lạnh, người qua lại hốt hoảng, vội vàng.  Chợ  Đông Ba còn nghi ngút khói.

Đặt chân tới Mang Cá, nhận bàn giao quyền Tư Lệnh Quân đoàn I / Quân Khu 1 ngay chiều đó, Trung tướng Trưởng bắt đầu bay đi thăm các đơn vị tiền tuyến.  Tôi được chỉ định sắp xếp lại bộ Tham Mưu Hành Quân và chuẩn bị các kế hoạch mới.

Sáng hôm sau, dân Huế đồn nhau “Tướng Trưởng đã trở lại”, tướng Trưởng, người tử thủ Huế năm 1968 nay đã trở lại, mọi sự sẽ ổn định.  Huyền thoại Ngô Quang Trưởng như một chiếc đũa thần mang đến phép lạ.  Có lẽ tôi khỏi cần phải kể rằng ít tháng sau đó, với sự tận tình yểm trợ của Đồng Minh, Quân Đoàn I tăng cường hai Sư đoàn Nhảy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến đã tái chiếm lại hầu hết tỉnh Quảng Trị.

Tướng bốn sao Hoa Kỳ, H. Norman Schwarzkoff, trong cuốn sách ông viết về trận đánh “Bão Sa Mạc” mang tên “It doesn’t take a hero” đã nức nở ca ngợi tài điều binh và kinh nghiệm chiến trường của Trung tướng Trưởng khi Ông hành quân cấp tiểu đoàn và lữ đoàn.

Năm 1975, một thử thách ở cấp bậc cao hơn đang chờ đợi !  Ngày 10-3-1975, Ban Mê Thuột bị tấn công để rồi thất thủ ngày hôm sau.  Không đầy một tuần tiếp theo, Pleiku và Kontum bị rút bỏ.  Các lực lượng Quân Đoàn II và dân chúng nheo nhóc di tản chiến thuật.  Quân Khu 2 đối diện nguy cơ bị xẻ làm hai.

Trong khi mũi tấn công chính của Bắc Việt đang thi triển tại Vùng 2 thì các lực lượng của CS tại Vùng 1 ào lên khai thác tình hình.  Ngày 24-3-75, Tam Kỳ rồi Chu Lai, Quảng Ngãi di tản, Sư đoàn 2 Bộ Binh bỏ chạy ra cù lao Ré.  Ngày 25-3 Mặt trận Huế vỡ.  Thế trận đang chuyển thành một cuộc bao vây và tấn công tương lai vào Đà Nẵng, nơi đặt bản doanh của Trung tướng Trưởng.  Các tuyến phòng thủ quanh Đà Nẵng co lại để sửa soạn phòng ngự.  Trong không khí hoảng loạn của dân Vùng 1 lánh nạn cùng với tin địch khởi sự tấn công vào đêm 29-3-75 hoà với áp lực cân não mọi phía, Tướng Trưởng triệu tập một cuộc họp các Tư lệnh đại đơn vị tại bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 vào 9 giờ 30 đêm 29-3-75 để rồi quyết định rút khỏi Đà Nẵng ngay đêm đó.  Quân khu giới tuyến thất thủ !

Trong suốt thời gian dài trên ba mươi năm định cư tại Virginia, tôi được may mắn ở gần và gặp gỡ Trung tướng Trưởng khá nhiều.  Tôi đã mời mọc vị cựu Tư Lệnh của tôi tham gia một số công tác hứa hẹn về hướng đấu tranh dân chủ hoá cho VN, Trung tướng Trưởng bao giờ cũng từ chối.  Ông sống như âm thầm với một nỗi u sầu khép kín.  Thời gian sau này, Ông đã nói nhiều hơn một chút nhưng cũng chẳng bao giờ thổ lộ bầu tâm sự.  Với vài ba bài báo viết về Ông trong mấy ngày cuối của VNCH, Ông bảo là có điều đúng, có nhiều điều sai vậy thôi!

Một tướng lãnh người đời đánh giá là tài ba sau cùng đã theo nạn nước mà di tản để gậm nhấm nỗi buồn nơi xứ người.  Có một lần tôi hỏi Ông:  “Nếu như Trung tướng có thể xoá ván bài, làm lại ở Đà Nẵng thì Trung tướng sẽ làm như thế nào?”  Và cũng có lần Ông đã trao đổi và đặt câu hỏi với một sĩ quan tham mưu cao cấp cũ của Quân đoàn như sau : “Nếu khi ấy ta giữ Đà Nẵng thì có thể làm được không?”  Các câu trao đổi này cho thấy Ông vẫn mang nặng một niềm đau gậm nhấm tâm can !

Ngày nay, Trung tướng Ngô Quang Trưởng đã ra đi.  Lũ bạn già chúng tôi đây xin hẹn sẽ gặp lại chốn cửu tuyền kia, sớm hay muộn nào ai biết !  Dầu sao, sinh ly tử biệt là đau, là buồn !  Vậy xin tạm biệt và cầu chúc Trung Tướng sẽ an bình nơi Tiên cảnh.  Chúng tôi xin chân thành chia buồn cùng bà quả phụ Ngô Quang Trưởng và cùng toàn Tang Quyến trong giờ phút đau đớn này.

Chúng tôi cùng xin bái biệt Trung Tướng Ngô Quang Trưởng!

Thương thay!

Virginia,  25-1-2007

Nguyễn Duy Hinh


3242 times read

Most Popular